Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam từ tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Trong những thập niên gần đây, sau khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau xuyên tạc, bôi đen về chủ nghĩa xã hội, phủ nhận vai trò lịch sử của chủ nghĩa xã hội... Xuất phát từ đó việc truyền bá về chủ nghĩa xã hội gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ kép hết sức quan trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay.

Tác phẩm Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một trong những tiêu chí căn bản giúp chúng ta nhận thức thống nhất về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để có niềm tin sắt đá vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội mà hành động thiết thực cho cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới.

1. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội

1.1. Chủ nghĩa xã hội là một phong trào lịch sử

Với tư cách là một phong trào, chủ nghĩa xã hội có lúc phát triển thành cao trào song cũng có lúc thoái trào. Đó là quy luật tất yếu của một sự vật, một hiện tượng, một sự kiện lịch sử. Với tư cách là một giai đoạn lịch sử, chủ nghĩa xã hội cũng như bao chế độ xã hội khác có thời điểm phát sinh, phát triển và suy vong. Bằng lối tư duy biện chứng, nhận thức như thế mới giải đáp dược vì sao chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Nó không phải là một quái thai của lịch sử, một sự đẻ non của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội có nguồn gốc xuất phát từ những tư tưởng không tưởng trong lịch sử tư tưởng loài người.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng là một hệ thống những quan điểm, tư tưởng về giải phóng xã hội, giải phóng con người; xây dựng một xã hội mới tốt đẹp không có áp bức, bóc lột, đảm bảo cho mọi người thực sự có cuộc sống bình đẳng, hạnh phúc, nhưng lại đưa ra con đường, biện pháp sai lầm, đó là bằng giáo dục, thuyết phục và tuyên truyền hòa bình… cho lý tưởng của họ.

Chủ nghĩa xã hội không tưởng ra đời từ khi con người có ý thức. Phát triển mạnh khi xã hội có áp bức giai cấp. Chủ nghĩa xã hội không tưởng có một quá trình phát triển lâu dài, từ chỗ là những ước mơ, khát vọng thể hiện trong các câu chuyện dân gian, các truyền thuyết tôn giáo đến những học thuyết xã hội – chính trị. Nó chứa đựng giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc thể hiện lòng yêu thương con người, thông cảm, bênh vực những người lao khổ, mong muốn giúp đỡ họ, giải phóng họ khỏi nỗi bất hạnh. Chủ nghĩa xã hội không tưởng bằng việc phác họa ra mô hình xã hội tương lai tốt đẹp, đưa ra những chủ trương và nguyên tắc của xã hội mới mà sau này các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã kế thừa một cách có chọn lọc và chứng minh chúng trên cơ sở khoa học. Với những giá trị lịch sử trên mà chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ yếu là của chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán đầu thế kỷ XIX, được các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học thừa nhận là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.

1.2. Chủ nghĩa xã hội lý luận, khoa học

Chủ nghĩa xã hội lý luận, khoa học ra đời từ điều kiện và tiền đề khách quan về kinh tế - xã hội, về khoa học tự nhiên khoa học xã hội cùng với vai trò C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin với sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học:

C.Mác đã nêu ra ba phát kiến vĩ đại đó là: Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Học thuyết giá trị thặng dư và Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. “Nhờ ba phát kiến ấy, chủ nghĩa xã hội đã trở thành khoa học”.

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” (2-1848) là tác phẩm bất hủ, là khúc ca tuyệt tác của chủ nghĩa Mác, là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào công nhân, phong trào cộng sản quốc tế.

V.I.Lênin phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học trong hoàn cảnh lịch sử mới. Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, trên cơ sở những di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã xây dựng một hệ thống lý luận mang tính nguyên tắc cho các đảng mácxít kiểu mới của giai cấp công nhân. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với yêu cầu của cộng cuộc xây dựng chế độ mới, V.I.Lênin phân tích và làm rõ nội dung, bản chất, đặc điểm, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước đi lên chủ nghĩa xã hội có xuất phát điểm thấp từ thuộc địa, sản xuất nhỏ.

1.3. Chủ nghĩa xã hội hiện thực

Chủ nghĩa xã hội hiện thực là một chế độ xã hội được thiết lập trên những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học sau khi giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản giành được chính quyền, xây dựng một xã hội mới với lực lượng sản xuất phát triển và quan hệ sản xuất tiến bộ với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp…

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình và con đường Xô viết: Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng; Chuyên chính vô sản – Chính quyền thuộc về giai cấp vô sản, nhân dân; Kinh tế tập trung, kế hoạch hóa, công hữu về tư liệu sản xuất; Văn hóa tinh thần xã hội chủ nghĩa – Nhân dân là chủ thể  (Đối tượng); Đối ngoại trên nền tảng chủ nghĩa quốc tế vô sản; Tạo thành hệ thống thế giới, đối trọng với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc trên nhiều lĩnh vực (KT - QPAN - Thăm dò khai thác vũ trụ).

Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời từ sau thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga 1917. Cùng với sự ra đời và vai trò to lớn của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III), các tổ chức quốc tế và sự nỗ lực của các Đảng Cộng sản đã hình thành tính phổ biến và đặc thù của nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Song song đó là sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa từ (1949 - 1991).

1.4. Chủ nghĩa xã hội thành hệ thống

1.4.1. Thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực

Phát triển kinh tế rất mạnh mẽ => một lực lượng kinh tế thế giới. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Dân chủ XHCN phát huy, mở rộng. Tấm gương, hình mẫu về phát triển xã hội. Văn hóa, khoa học, kỷ thuật, công nghệ với tốc độ và thành tựu vĩ đại. Đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển. Giải phóng con người, giai cấp, dân tộc một cách triệt để.

1.4.2. Cống hiến và vai trò lịch sử

Khai sinh và xây dựng và phát triển một hình thái kinh tế - xã hội mới trong lịch sử loài người => (HTKT-XHCSCN). Tạo thời cơ bùng nổ, chổ dựa vững chắc cho hai dòng thác cách mạng khác của thời đại thành cao trào cách mạng liên tiếp tấn công vào chủ nghĩa đế quốc. => 3 dòng thác cách mạng: Hệ thống XHCN + PTCS CNQT + PTGPDT. Cứu nhân loại ra khỏi diệt vong của chủ nghĩa phát xít. Một trong ba dòng thác cách mạng liên tiếp tấn công vào chủ nghĩa đế quốc. Đối trọng hữu hiệu với chủ nghĩa tư bản, đế quốc trên lĩnh vực quân sự, chiến lược, hòa bình, an ninh và phát triển (Nghiên cứu, khai thác Vũ trụ)

1.5. Khủng hoảng của CNXH hiện thực ở Đông Âu, Liên Xô và nguyên nhân.

1.5.1. Khủng hoảng của CNXH hiện thực ở Đông Âu, Liên Xô.

Sự bất đồng trong PTCS và CNQT từ những năm 1960. Quan hệ Xô – Trung xấu đi làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị thế, hình ảnh, uy tín của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong đời sống chính trị thế giới. Xu hướng ly khai ở các quốc gia dân tộc bùng phát. Dân chủ hóa chính trị và sự phục hồi của chủ nghĩa tư bản. Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực không còn phù hợp. Về khách quan, xây dựng chủ nghĩa xã hội là con đường hoàn toàn mới mẻ, khó khăn, phức tạp chưa có tiền lệ trong lịch sử. Sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc đối với chủ nghĩa xã hội thế giới. Hầu hết các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có xuất phát điểm thấp, cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ phát triển kinh tế so với chủ nghĩa tư bản còn hạn chế, ảnh hưởng quá lớn mô hình Xô viết => áp đặt => Mô hình duy nhất.

Chủ quan mà xét, hạn chế trong tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận của các Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc tìm kiếm mô hình phù hợp với quốc gia, dân tộc. Những yếu kém, khuyết điểm trong đường lối chính trị, sự vận hành kém hiệu quả của hệ thống chính trị và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ở nhiều quốc gia, công tác XDĐ bị vi phạm cơ bản. (Sai lầm về đường lối; xa rời quần chúng; mất lòng tin của nhân dân; Diễn biến hòa bình và sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc). Sự mâu thuẩn, mất đoàn kết, thiếu thống nhất trong nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa.

1.5.2. Bài học kinh nghiệm chung.

Chủ nghĩa xã hội cần phải được gieo trồng trên từng mảnh đất hiện thực. Tôn trọng các quy luật khách quan và vận dụng chúng phù hợp với các điều kiện lịch sự cụ thể. Mỗi cuộc cách mạng chân chính cần biết cách tự bảo vệ. Chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp quốc tế. Sự lãnh đạo của Đảng tiền phong là yếu tố quyết định.

1.5.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.

          Một là, Kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          Hai là, kết hợp tổng kết lịch sử, tổng kết thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội để định ra đường lối chiến lược phù hợp và những động lực phát triển.

          Ba là, kiên trì, sáng tạo và có nguyên tắc trong đổi mới công tác xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay.

          Bốn là, kế thừa biện chứng những giá trị phổ biến của nhân loại đã đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.

          Năm là, kiên định, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Sáu là, thường xuyên đấu tranh với các quan điểm sai trái và chủ nghĩa dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của ĐCS.

2. Con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

2.1. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn

Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Đi lên chủ nghĩa xã hội hoàn toàn phù hợp với quy luật của cách mạng Việt Nam. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, được lịch sử lựa chọn từ những năm 1930 đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thực tiễn kiểm nghiệm bằng thành tựu của hơn 35 năm đổi mới.

Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.

2.2. Đi lên chủ nghĩa xã hội việt Nam là sự kiên định nhất quán

Sự kiên định nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội qua các kỳ đại hội. Từ Cương lĩnh 1930 Đảng ta khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản. Tức là đi vào giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu. Đến ĐH XI 2011, Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.” [1]

Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định nhất quán con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô

2.3. Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ

2.3.1. Mô hình chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp. Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, xác lập chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách thức tổ chức lao động cùng với kỹ thuật và kỹ luật lao động mới. Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Xây dựng nhà nước kiểu mới, thể hiện bản chất của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 khẳng định mô hình chủ nghĩa xã hội việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do nhân dân làm chủ. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

2.3.2. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Mục tiêu tổng quát chủ nghĩa xã hội Việt Nam: Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Mục tiêu cụ thể chủ nghĩa xã hội : Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

2.3.3. Động lục xây dựng chủ nghĩa xã hội

Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

“Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực... thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”

2.3.4. Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. [2]

2.3.5. Nhiệm vụ, giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội

Quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Tóm lại, từ nhận thức một cách đúng đắn, triệt để và nhất quán về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã giúp cho mỗi chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về những thuận lợi, khó khăn; những thời cơ, vận hội; nguy cơ và thách thức đan xen nhau để từ đó với quyết tâm chính trị cao chúng ta phải phấn đấu vượt qua, tránh được căn bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí; trong nhận thức phải xuất phát từ thực tế khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật.

Từ những vấn đề lý luận đã nêu trên, thực tiễn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo hơn 35 năm qua với những thành tựu hết sức khả quan, cho phép chúng ta khẳng định dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng thuận của nhân dân, con đường đi lên lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhất định kết thúc thắng lợi. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sức sống vẫn mãnh liệt, mãi mãi vẫn là sức hấp dẫn đối với loài người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng ta chủ trương tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiểu rõ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản, hiểu rõ thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà học thuyết mang lại, đó cũng chính là cách mà cán bộ, đảng viên tự bồi dưỡng lập trường tư tưởng, phương pháp cách mạng, hoàn thành tốt trách nhiệm mà lịch sử giao phó.

Những năm gần đây, thế giới trãi qua nhiều biến động, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Các thế lực thù địch ra sức bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin. Thế nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn thu hút trái tim, khối óc của hàng triệu nhân dân lao động trên toàn thế giới. Đấu tranh chống áp bức, bất công, chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Dù nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có khác nhau ở mỗi quốc gia dân tộc, dù thời gian còn lâu dài, có những bước thăng trầm, nhưng lịch sử nhân loại tất yếu sẽ dẫn loài người tới chủ nghĩa cộng sản C.Mác đã chỉ ra từ tháng 2 năm 1848 trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. CTQG - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 70.

[2] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, HN, Tr. 72.

Tác giả
ThS. Nguyễn Thành Phương - Trưởng Khoa Lý luận cơ sở-Trường Chính trị