Một trong những tài sản tinh thần vô cùng quý giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt phải kể đến là những tư tưởng của Người qua bản Di chúc mà Người đã để lại cho Đảng và dân tộc ta. Giá trị to lớn trong bản Di chúc không chỉ là những lời căn dặn đơn thuần cuối cùng của một người trước lúc đi xa, mà là kết tinh những tinh hoa, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một người đã hiến dâng cả cuộc đời mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, giá trị của bản Di chúc mãi mãi trường tồn, mãi mãi được khắc sâu trong tâm trí của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng, toàn dân ta.
Bản Di chúc lịch sử ấy đơn giản chỉ là “mấy lời để lại”, “tóm tắt vài việc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, nhưng chứa đựng sự tổng kết lớn lao, vĩ đại của người anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất, thể hiện trí tuệ mẫn tiệp, tầm nhìn xa, trông rộng của Người đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Bản Di chúc đó không chỉ là những lời căn dặn thiết tha, chứa đựng biết bao tình cảm, hoài bão và khí phách, thể hiện trong từng lời nhắc nhở, dặn dò trước lúc Người đi xa mà nó đã trở thành một tác phẩm “đặc biệt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một tài sản vô cùng quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa lịch sử, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó còn là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, Nhân dân và sự nghiệp cách mạng.
Di chúc là tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Di chúc - theo tính chất thể loại, là một dạng văn bản ghi lại những điều mà người sắp từ giã cuộc đời nói với những người đang sống. Di chúc thường được công bố khi người viết đã ra đi, do vậy đây là một văn bản mà bản thân nó đã gợi nên những gì là ngậm ngùi, tiếc nhớ, buồn thương. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dĩ nhiên vẫn mang những nét đặc trưng thông thường nhưng lại có xu hướng vượt thoát ra ngoài, vươn lên khỏi biên giới thể loại, hình thành một văn kiện lịch sử vô giá, mang tầm vóc văn hóa lớn lao - Tầm vóc văn hóa Hồ Chí Minh. Di chúc đúc kết cuộc đời của Bác, kết tinh tư tưởng, tình cảm, đạo đức, tâm hồn cao đẹp, nhân cách, bản lĩnh của một lãnh tụ, một vĩ nhân - “muôn vàn tình thân yêu” với Tổ quốc, với Nhân dân, với phong trào cách mạng thế giới, với bạn bè khắp năm châu, đặc biệt với thanh niên và nhi đồng. Đọc Di chúc của Bác, ấn tượng sâu sắc đầu tiên, vượt lên nỗi buồn, khắc nghiệt của chiến tranh, hình thành một niềm tin tất thắng, ngay từ dòng mở đầu của Di chúc, Người viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”. Đây là niềm tin vào tiền đồ tươi sáng của cả dân tộc, hiện thân của một tầm vóc văn hóa kiệt xuất, văn hóa của tương lai. Bằng niềm tin ấy, chúng ta thấy Bác, ứng xử văn hóa truyền thống của Bác trong một gia đình lớn: Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Và tấm lòng biết ơn, tri ân uống nước nhớ nguồn của người Việt: “Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”.
Xuyên suốt Di chúc toát lên giá trị nhân văn cao cả trong ứng vử văn hóa của Bác với mọi người trong xã hội, với đảng viên, cán bộ, thể hiện tầm vóc văn hóa lớn của Người, Người ân cần căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tầm vóc văn hóa lớn trong Di chúc còn thể hiện nhãn quan biện chứng, có kế thừa, có phát triển và luôn hướng tới tương lai trong tư tưởng của Người: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Không những thế, Di chúc còn là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước, như Người đã viết “Suốt đời tôi hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và Nhân dân; là tấm lòng chung thủy với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.
Nói về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền trong bản Di chúc. Người đã chỉ ra cần làm ngay sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, trước tình hình mới, yêu cầu mới là phải tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Người khẳng định: “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Do vậy, Người đặc biệt nhấn mạnh đến trọng trách lịch sử của Đảng, tính tiền phong gương mẫu và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, suốt đời chăm lo cho cuộc sống của dân, tận tụy trung thành với Dân, với Nước. Bởi thế, nổi bật trong Di chúc là “Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”; “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Qua đó, Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng. Trong Di chúc, Người đã viết: Giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”. Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bĩ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với Nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”.
Di chúc của Bác không những định hướng về xây dựng và củng cố Đảng cầm quyền còn là chương trình hành động về sự nghiệp xây dựng đất nước với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội... Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Về kinh tế, Di chúc nói tới việc “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”. Về văn hóa, Di chúc đề cập việc “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Người suy nghĩ “về một kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để xây dựng lại đất nước đẹp đẽ, đàng hoàng hơn”. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí; mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, môi trường sinh thái.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, sức mạnh của Nhân dân trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người viết: “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Và điều mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi xa mang tính thời đại: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Từ những lới căn dặn trên, có thể khẳng định Di chúc của Bác là một báu vật. Sau 55 năm, không những giá trị của bản Di chúc vẫn giữ nguyên mà ngày càng có tính chất hiện thực và thời sự.
Nhân dịp kỷ niệm ngày Quốc Khánh 2/9 năm nay, kế thừa những di sản của Bác, mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần những giá trị, tầm vóc của bản Di chúc, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, rèn luyện phong cách làm việc, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Kiên quyết đấu tranh với những gì là cũ kỹ, lạc hậu để tự mình đổi mới, tự mình vươn lên đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, phải tích cực, nhạy bén đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, sự độc đoán, chuyên quyền, tham ô, nhũng nhiễu Nhân dân, chống lại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tự diễn biến, tự chuyển hóa…; những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Thường xuyên gắn bó với quần chúng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân./.