CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC, CỨU DÂN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC PHÙ HỢP XU THẾ THỜI ĐẠI VÀ KHÁT VỌNG CỦA DÂN TỘC
Nhìn lại 38 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Điều đó hoàn toàn là những cơ sở thực tiễn không thể chối cải được, khẳng định con đường cứu nước, cứu dân của Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ phù hợp xu thế thời đại và khát vọng của dân tộc.
Những ngày tháng năm năm nay, trong không khí cả dân tộc tưng bừng kỷ niệm ngày sinh nhật Bác, có dịp kiểm nghiệm lại thực tiễn của tiến trình cách mạng Việt Nam thực hiện theo tư tưởng của Người đã đưa dân tộc ta đến đài vinh quang, sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới.
1. Nguyễn Ái Quốc - Người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn nhất.
Xuất phát từ đặc điểm lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đang khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Ngày 05/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, Anh Ba (Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu mang tên Đô đốc Latouche-Tréville làm phụ bếp nhằm thực hiện chuyến ra đi về phương Tây tìm con đường cứu dân, cứu nước, một con đường mới chưa được khám phá.
Đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều đối tượng đã giúp Nguyễn Ái Quốc tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển nhãn quan chính trị vượt thời đại của mình. Khảo nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và cách mạng tư sản Pháp (1789), Người rút ra nhận xét: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi vậy: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”.(Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 9, tr 314) Đi theo con đường của V.I.Lênin, của cách mạng tháng mười Nga 1917 thì mới giải phóng dân tộc: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr. 304)
Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc, thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi đến Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây bản Yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, Bản Yêu sách chỉ là những điều “khiêm tốn” đặt trong bối cảnh: “trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự”. Bởi, chúng ta thấy tuyên bố về quyền dân tộc tự quyết của Tổng thống Mỹ tại Hội nghị Versailles năm 1919 chỉ là trên đầu lưỡi, không có một chút nào về giá trị thực tế. Về sau, trong một loạt bài báo có tên là Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn”.
Tháng 7-1920, đọc được Luận cương của V.I.Lênin về Vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc, vui mừng đến phát khóc: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.2, tr.268). Đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.
Con đường đem lại độc lập dân tộc cho dân tộc Việt Nam đó là con đường giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2011, tr.30). Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (Hồ Chí Minh, Toàn tập: t. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.563).
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi áp bức nô lệ: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin.… Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 10, tr. 128). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Nguyễn Ái Quốc đến với Luận cương của Lênin, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin rất nhanh chóng, rõ ràng, dứt khoát. Đó là kết quả của cả một quá trình gần 10 năm nỗ lực phấn đấu, trăn trở về vận mệnh đất nước, khảo cứu, rút kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng lớn trên thế giới về con đường giải phóng dân tộc; học tập lý luận, tham gia đấu tranh chính trị. Chọn lựa chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất nhằm giải phóng dân tộc, khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức, đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước, các xu hướng cứu nước ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
Như vậy, sau gần 10 năm tiến hành khảo sát, tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm và ra sức rèn luyện trong phong trào công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, xác lập con đường cứu nước mới theo con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tìm ra con đường đúng đắn rồi thiết kế tương lai, dẫn dắt dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, hạnh phúc và phát triển như ngày nay.
2. Nguyễn Ái Quốc người mở ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấm gương mẫu mực về nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Người trong quá trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đồng thời bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ và hoạt động thực tiễn của mình, Bác đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam những đóng góp mang tầm vóc thời đại.
Sự kiện tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ ba Quốc tế Cộng sản do Lênin thành lập. Đây cũng là sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới - “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin” (2).
Từ đây, Người trăn trở mở đường về nước để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Do vậy, năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã viết Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, là: “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” (3). Đó là mục đích và khát vọng của Người khi ra đi tìm được con đường cứu dân, cứu nước. Nhưng trên thực tế, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã bị chính quyền thực dân theo dõi, kiểm soát gắt gao, như trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Đã hai lần tôi cố gắng về An Nam, nhưng phải quay trở lại. Bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra vụ An Nam “Quốc dân Đảng” (4)
Sau khi tiếp nhận Luận cương của Lênin, từ một người yêu nước nhiệt thành, Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, trở thành một người cộng sản. Kết quả của quá trình năng động hoạt động thực tiễn và việc tiếp nhận lý luận ban đầu càng làm sáng tỏ hơn con đường để cứu dân tộc mà Người đang đi tìm và dẫn tới quyết định quan trọng thứ hai sau quyết định sang phương tây tìm đường cứu nước. Đó là quyết định mở ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam đưa cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng của Lênin.
Với tinh thần “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” của V.I Lênin - Nhưng đó mới là điều kiện cần. Để có được phong trào cách mạng mạnh mẽ, giành được thắng lợi thì ngoài lý luận cách mạng đúng đắn, điều kiện đủ không thể thiếu là phải xây dựng được một đảng cách mạng chân chính, vững mạnh và có đội ngũ cán bộ cách mạng có đủ nhiệt tình và năng lực đưa lý luận cách mạng vào thực tiễn phong trào đấu tranh.
Từ tinh thần: Cách mệnh muốn thành công trước hết phải có Đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực không ngừng xúc tiến công việc chuẩn bị về mọi mặt để thành lập một đảng cộng sản ở một xứ thuộc địa để có thể đảm nhận vị trí lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc.
Sau nhiều lần đề nghị với lãnh đạo Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với danh nghĩa công khai là cán bộ phiên dịch trong phái bộ Bô-rô-din - Cố vấn chính trị của Quốc tế Cộng sản bên cạnh chính phủ Tôn Trung Sơn. Ở Quảng Châu khi đó đã có nhóm Tâm tâm xã - tổ chức yêu nước của những thanh niên Việt Nam cấp tiến trong Việt Nam quang phục hội thành lập từ năm 1923. Tiếng bom quả cảm của Phạm Hồng Thái - thành viên của Tâm tâm xã, mưu sát toàn quyền Đông Dương Mec-lanh ngày 19/6/1924 tại Sa diện vẫn còn âm vang trong lòng những thanh niên Việt Nam yêu nước.
Từ Moskva, khi đó Nguyễn Ái Quốc đã thấy đây là một “cánh chim báo tin vui”. Các thành viên tiêu biểu của Tâm tâm xã là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái… Đây là một nhóm thanh niên đầy nhiệt huyết, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc nhưng con đường cứu nước của họ chưa xác định được rõ ràng. Ngay sau khi đến Quảng Châu 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc đã chọn những hạt nhân đầu tiên cho cách mạng Việt Nam là những thành viên trung kiên của nhóm Tâm tâm xã trên sự tin tưởng vào bầu nhiệt huyết yêu nước của thế hệ trẻ.
Từ những hạt nhân đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên 1925, sáng lập báo Thanh niên - tờ báo đầu tiên của cách mạng Việt Nam 21/6/1925, và tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ. Nguyễn Ái Quốc vừa là người tổ chức lớp học, vừa biên soạn tài liệu giảng dạy, vừa là giáo viên trực tiếp truyền đạt những nội dung học tập. Trong những năm 1924-1927, Người còn đảm nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ của một chiến sĩ quốc tế do Quốc tế Cộng sản giao phó.
Bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ và hoạt động thực tiễn của mình, Bác đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam những đóng góp mang tầm vóc thời đại
Chủ trì thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác. Sau khi tìm được con đường đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề cơ bản về chính trị (Viết Cương lĩnh chính trị đầu tiên), tư tưởng ( Viết cuốn Đường Kách mệnh 1927) và tổ chức (Cử những hạt giống cách mạng đầu tiên sang các trường đại học Phương Đông của Liên Xô và Hoàng Phố của Trung Quốc để học tập) tạo mọi tiền đề và điều kiện cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.
Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, tại Hương Cảng, Hồng Kông, Trung Quốc diễn ra Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế cộng sản chủ trì. Tại Hội nghị đã thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cương lĩnh chính trị tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” tức độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.1,3, 539). Đó chính là mục đích chiến lược của con đường cách mạng Việt Nam mà cả thế kỷ XX và ngày nay Đảng, Nhân dân ta luôn trung thành và kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 103 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được ở chủ nghĩa Mác-Lênin trên hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của mình.
3. Nguyễn Ái Quốc người dẫn đường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó chính là: Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản tức là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác trong quá trình tìm đường cứu nước, cứu dân.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công gắn liền với bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám đang đứng trước nguy cơ của ba thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Nguời đã dẫn đường cho dân tộc ta chiến thắng tất cả.
Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 là chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thể hiện trong đánh giá tình hình, quyết định phá Kế hoạch Navarre, mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, trong quyết định kịp thời thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch phù hợp, đúng, hiệu quả, trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết và ý chí quyết chiến, quyết thắng của toàn dân tộc, tiếp tục phát huy bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Thắng lợi của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ là một trong những thắng lợi to lớn nhất, oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. “Được ghi vào lịch sử Việt Nam như một trong những chiến công chói lọi nhất, một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam với tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do những thành tựu rực rỡ ấy là do sự dẫn đường của Bác cho dân tộc ta đi đến vinh quang.
4. Nguyễn Ái Quốc người chỉ đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đưa dân tộc Việt Nam đến đài vinh quang, sánh vai cùng các cường quốc, năm châu trên thế giới.
Từ Cương lĩnh 1930 Đảng ta khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản. Tức là đi vào giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu. Đến ĐH XI 2011, Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.”
Trong Di chúc 1969, Bác đã căn dặn, ân cần, sâu sắc như chỉ đường cho Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân ta tiếp tục hiện thực hóa con đường mà Bác đã chọn, khẳng định nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Người đã phát huy giá trị trong thời đại mới.
Kết thúc thắng lợi vĩ đại của cách mạng giải phóng dân tộc năm 1975, hơn 50 năm phấn đấu thực hiện, điều mong muốn cuối cùng của Bác trong Di chúc giờ đã trở thành hiện thực: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới năm 1986 cùng với những thắng lợi của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của Người được chúng minh trong thời kỳ đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng tiếp tục khẳng định con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định mục tiêu lớn của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bởi vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Thắng lợi của Đại hội XIII, năm 2021, năm có nhiều sự kiện lịch sử in đậm dấu ấn trọng đại của dân tộc. Đại hội XIII khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là mục đích duy nhất của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý phổ biến cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cho loài người tiến bộ trên thế giới.
Dự báo tình hình thế giới và đất nước những năm sắp tới nhằm xác định vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng trong nhiệm kỳ mới. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.
Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 về kinh tế, xã hội, môi trường; 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030; 6 nhiệm vụ trọng tâm; 3 đột phá chiến lược nhiệm kỳ Đại hội XIII lý luận với tư cách soi đường, chỉ đạo cho hành động cải tạo hiện thực trong những năm tới đây nhằm tránh chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Tất cả những thành tựu to lớn của dân tộc mang tầm vóc thời đại ấy, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự vận dụng và phát huy sáng tạo nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác trong quá trình tìm, mở, dẫn và chỉ đường cứu nước, cứu dân: Con đường của Nguyễn Ái Quốc không chỉ phù hợp xu thế thời đại và khát vọng của dân tộc xưa kia mà giờ đây vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn để Đảng ta, Nhân ta phát huy trong thời đại mới.
……………………………………
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, t.1, tr. 416
(2) Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 8
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 209
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 13
Tác giả
ThS. Nguyễn Thành Phương