Chủ nghĩa Mác-Lênin - học thuyết vĩ đại là chân lý, soi sáng đường cho cách mạng Việt Nam

Những ngày tháng tư năm nay, với tư cách là một giảng viên lý luận chính trị, đọc lại bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Bọn đế quốc cướp nước không bao giờ có thể nô dịch dân tộc Việt Nam anh dũng”, gửi tạp chí “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân” - cơ quan ngôn luận của Cục Thông tin quốc tế: Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng lòng không khỏi tự hào về bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết vĩ đại: Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đúng cho hiện tại mà cho cả tương lai. Không chỉ đúng cho nhân loại mà hoàn toàn phù hợp với khát vọng của dân tộc Việt Nam.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đầu tiên và duy nhất tìm đến và truyền bá học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

Xuất phát từ đặc điểm lịch sử Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đang khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước. Ngày 05/6/1911, cách đây đã tròn 113 năm, tại bến cảng Nhà Rồng, Anh Ba (Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu mang tên Đô đốc Latouche-Tréville làm phụ bếp nhằm thực hiện chuyến ra đi về phương Tây tìm con đường cứu dân, cứu nước, một con đường hoàn toàn mới chưa được khám phá.

Đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều đối tượng đã giúp Bác tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển nhãn quan chính trị vượt thời đại của Người. Khảo nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và cách mạng tư sản Pháp (1789), Người rút ra nhận xét: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi vậy: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 9, tr 314) -

Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc, thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi đến Hội nghị các nước đế quốc họp tại Vécxây bản Yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, Bản Yêu sách chỉ là những điều “khiêm tốn” đặt trong bối cảnh: “trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự”. Bởi, chúng ta thấy tuyên bố về quyền dân tộc tự quyết của Tổng thống Mỹ tại Hội nghị Versailles năm 1919 chỉ là trên đầu lưỡi, không có một chút nào về giá trị thực tế. Về sau, trong một loạt bài báo có tên là Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn”.

Tháng 7-1920, đọc được Luận cương của V.I.Lênin về Vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc, vui mừng đến phát khóc: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.2, tr.268). Đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.

Con đường đem lại độc lập dân tộc cho dân tộc Việt Nam đó là con đường giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2011, tr.30). Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (Hồ Chí Minh, Toàn tập: t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.563).

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi áp bức nô lệ: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin.… Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 10, tr. 128). “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Nguyễn Ái Quốc đến với Luận cương của Lênin, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin rất nhanh chóng, rõ ràng, dứt khoát. Đó là kết quả của cả một quá trình gần 10 năm nỗ lực phấn đấu, trăn trở về vận mệnh đất nước, khảo cứu, rút kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng lớn trên thế giới về con đường giải phóng dân tộc; học tập lý luận, tham gia đấu tranh chính trị. Chọn lựa chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất nhằm giải phóng dân tộc, khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức, đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước, các xu hướng cứu nước ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.

 Như vậy, sau gần 10 năm tiến hành khảo sát, tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm và ra sức rèn luyện trong phong trào công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, xác lập con đường cứu nước mới theo con đường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tìm ra con đường đúng đắn rồi thiết kế tương lai, dẫn dắt dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, hạnh phúc và phát triển như ngày nay.

2. Học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin vừa là nền tảng tư tưởng của Đảng ta vừa soi sáng đường cho dân tộc Việt Nam giành thắng lợi.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận cách mạng, khoa học và nhân văn do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ thứ XIX, được V.I.Lênin bổ sung phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. “Là hệ thống có căn cứ khoa học các quan điểm về triết học, kinh tế, chính trị-xã hội; học thuyết về nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy con người, về những con đường lật đổ chế độ bóc lột và xây dựng chủ nghĩa cộng sản; thế giới quan của giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là đảng cộng sản và công nhân” (Chủ nghĩa cộng sản khoa học – Từ điển, Nxb Tiến Bộ Mát - xcơ - va và Nxb Sự Thật Hà Nội, 1986, tr.206)

Học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng và của dân tộc Việt Nam.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, quá trình khảo nghiệm các cuộc cách mạng, các học thuyết trên thế giới, tiếp cận chủ nghĩa Uynxơn Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Sau một thời gian nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi nhận thấy rằng “chủ nghĩa Uynxơn” chỉ là một trò bịp bợm lớn”.

Tháng 7-1920, đọc được Luận cương của V.I.Lênin về Vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa,Nguyễn Ái Quốc khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Người ân cần căn dặn: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”.

Cách mệnh “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”; “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” và Người đã nỗ lực hoạt động, xúc tiến, chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mùa xuân năm 1930.

Đại hội XI khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Các Văn kiện Đại hội XIII là văn kiện cao nhất, quan trọng nhất của Đảng, có ý nghĩa định hướng về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong 5, 10, 25 năm tới, do vậy phải bảo đảm sự kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc để không chệch hướng, không cực đoan. Tuy cách tiếp cận và trình bày cụ thể các vấn đề, nội dung có khác nhau tùy theo yêu cầu, tính chất của từng báo cáo, song tất cả các văn kiện đều kiên định nguyên tắc tính đảng, đó là: Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng.

Học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin là chân lý, soi sáng đường cho dân tộc Việt Nam giành thắng lợi

Cương lĩnh Đại hội VII khẳng định: Thực hiện Cương lĩnh năm 1930, trong suốt 45 năm, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ và giành được những thắng lợi vĩ đại: làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng nửa nước, miền Bắc chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Sau thắng lợi lịch sử mùa Xuân 1975, nhân dân ta tiếp tục nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đã đạt những thành tựu to lớn: thiết lập chính quyền nhân dân ở cả miền Nam, thống nhất nước nhà; khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh; từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Cương lĩnh 2011 (bổ sung và phát triển) khẳng định: Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

Đại hội XIII khẳng định: Đó là thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời lở đất”, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, trên cơ sở tổng kết thực tiễn sáng tạo của quần chúng nhân dân, phân tích và dự báo đúng tình hình thế giới và xu thế thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và đề ra đường lối đổi mới, đánh dấu bước chuyển to lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự nghiệp đổi mới là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là quá trình thay đổi sâu sắc, toàn diện về nhận thức, tư duy lý luận, về chủ trương, đường lối xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, đã thật sự trở thành sản phẩm sáng tạo vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam, mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để đất nước Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Nhìn lại hơn 35 năm qua, khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng vào khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, dân tộc hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc; đề ra mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự thể hiện tầm nhìn của Đảng thống nhất với khát vọng của nhân dân; là động lực to lớn phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để Việt Nam lập nên kỳ tích phát triển mới, cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu.

3. Bảo vệ tính khoa học, cách mạng, tính chiến đấu của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới đã được V.I.Lênin bổ sung, phát triển nên gọi thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Nó mang bản chất cách mạng và khoa học, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội và con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác có giá trị trường tồn và sức sống bền vững trong lòng nhân loại tiến bộ trên thế giới và Nhân dân Việt Nam.

Có thể có những luận điểm riêng biệt nào đó do thực tiễn đổi thay phải được bổ sung, phát triển nhưng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn giữ nguyên giá trị khoa học, cách mạng bền vững. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin". Chủ nghĩa Mác-Lênin có giá trị bền vững và sức sống lâu dài trong thời đại ngày nay.

Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc". V.I.Lênin sau này cũng không ít lần nhắc nhở những người cộng sản Nga rằng: "Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống". Chính vì vậy mà V.I.Lênin đã bổ sung nhiều luận điểm lý luận so với thời đại của C.Mác, Ph.Ăngghen.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhiều lần căn dặn, nhắc nhở cán bộ, đảng viên học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là "phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta". Điều đó chứng tỏ phát triển là một giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính vì vậy mà chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn tồn tại và phát triển. Nhờ phát triển mà chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn tồn tại, chính sự tồn tại lại đòi hỏi chủ nghĩa Mác-Lênin phải được phát triển sáng tạo.

Cùng với phát triển thì chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa nhân đạo triệt để nhất. Bởi lẽ, sự ra đời và tồn tại của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng do nhu cầu giải phóng con người và cũng nhằm mục đích giải phóng con người. Ngoài mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người đàn áp người, chủ nghĩa Mác-Lênin không có mục tiêu nào khác. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.

Thứ nhất, trong di sản lý luận đồ sộ, sâu sắc của C.Mác, công lao to lớn, đầu tiên là ông đã xây dựng một thế giới quan và phương pháp luận mới, khoa học và cách mạng, đem lại cho nhân loại tiến bộ và nhất là cho giai cấp công nhân một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. 

 Thứ hai, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã vạch ra những quy luật kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhìn nhận chủ nghĩa tư bản trong cả quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó. Một trong hai phát kiến vĩ đại của Mác là việc phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư được ví như “hòn đá tảng” trong toàn bộ học thuyết của Mác.

Thứ ba, với hai phát kiến khoa học vĩ đại là chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã đặt nền móng vững chắc cho việc hiện thực hóa tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học - học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột và tha hóa. Nhờ có thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận khoa học, C.Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội và lực lượng xã hội có thể đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản và xây dựng thành công xã hội mới, đó là giai cấp vô sản.

Đối với cách mạng Việt Nam, nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp công nhân và Nhân dân Việt Nam ta mới tìm được con đường đi tới độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Từ khi Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, thì chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là ngọn đuốc dẫn đường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trải qua hơn 90 năm đấu tranh anh dũng, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm nguyên tắc xây dựng Đảng; thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng".

Ngày 22/10/2019 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. 

1. Nhận diện các thế lực thù địch trong việc tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Thứ nhất, là các lực lượng thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước Tư bản phát triển thì những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng xã hội chủ nghĩa cũng đấu tranh lẫn nhau. Cuộc đấu tranh này không chỉ diễn ra ở dất nước chúng ta mà còn trên phạm vi thế giới.

Thứ hai, là lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt…

Thứ ba, là một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

2. Một số nội dung, phương thức chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch.

* Về nội dung chống phá:

Phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực; phủ nhận những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử chúng ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng.

* Về phương thức chống phá:

Chúng sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam (như VOA tiếng việt, RFA, RFI, BBC việt ngữ) để nói xấu Việt Nam. Chúng đặc biệt sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng các sai sót trong quản lý để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc. Chúng tổ chức các hội thảo để xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, tuy âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất ghê gớm.

Chúng tấn công vào nội bộ, phủ nhận các thành tựu đã đạt được của cơ quan, đơn vị, kích động để tấn công vào quá khứ.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong Đảng

Tập trung đổi mới để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền vể Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của báo chí truyền thông; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với sai phạm; siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng.

Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet và mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Tác giả
ThS. Nguyễn Thành Phương - Trưởng Khoa Lý luận cơ sở-Trường Chính trị