
Sau hơn 25 năm tiến hành đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố bất trắc, khó lường. Thực hiện chủ trương và kế thừa, phát triển những nhận thức mới của Đảng, kết hợp với kết quả tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội lần thứ XI của Đảng (năm 2011) thông qua và ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) gọi tắt là Cương lĩnh năm 2011.
1. Giá trị tư tưởng, lý luận của Cương lĩnh 2011
* Cương lĩnh là ngọn cờ tập hợp, cổ vũ toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Cương lĩnh chính là nền tảng lý luận chính trị để Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương xây dựng, bảo vệ đất nước phù hợp với tình hình, yêu cầu mới, qua đó, tiếp tục làm sáng rõ hơn tư tưởng, tinh thần của Cương lĩnh. Từ năm 2011 đến nay, Đại hội XI, XII, XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trên cơ sở quán triệt, vận dụng sáng tạo Cương lĩnh 2011, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận nhằm cụ thể hóa, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng.
Cương lĩnh 2011 được bổ sung, phát triển trên cơ sở nghiên cứu lý luận với tư duy đổi mới và sự tổng kết thực tiễn đất nước qua hơn 20 năm đổi mới, thực tiễn thế giới với nhiều động thái, xu thế vận động mới đã làm sáng tỏ hơn những đặc trưng cơ bản của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhân dân ta phấn đấu xây dựng, những mục tiêu, phương hướng, những định hướng lớn trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống đất nước với tầm nhìn trung hạn, dài hạn.
Cương lĩnh 2011 và những nghị quyết của Đảng từ Đại hội XI, XII đến nay khẳng định sự vững vàng của Đảng, sự đúng đắn của đường lối đổi mới, thật sự trở thành ngọn cờ tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Một mặt, Cương lĩnh củng cố, tăng cường sức mạnh đoàn kết, quyết tâm chính trị, tinh thần lao động, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, mặt khác làm tăng thêm sức mạnh đề kháng của cán bộ, đảng viên, Nhân dân trước những âm mưu, hành động xuyên tạc, kích động, chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá Đảng của các thế lực thù địch, phản động. Trận địa tư tưởng được giữ vững; sức mạnh tinh thần được tăng cường. Đó chính là cội nguồn và động lực tạo nên những thành tựu to lớn, toàn diện của đất nước trong gần 10 năm qua.
* Cương lĩnh là nền tảng tiếp tục phát triển, hoàn thiện lý luận
Trước hết, Cương lĩnh là nền tảng lý luận để Đảng ta tiếp tục phát triển nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nó là cơ sở lý luận để Đảng cụ thể hóa, từng bước hoàn thiện định hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xây dựng hệ thống chính trị, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Cụ thể, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Cương lĩnh tổng kết ở tầm lý luận những bài học kinh nghiệm lớn trong hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng, tạo cơ sở khoa học để Đảng tiếp tục hoàn thiện đường lối cách mạng, phương thức lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) do Đại hội XI của Đảng thông qua (1/2011) cũng đã nêu bật 5 bài học chủ yếu. Đó là sự tổng kết 81 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhất là 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991.
2. Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh 2011
Những giá trị tư tưởng, lý luận của Cương lĩnh 2011 đã chuyển hóa thành hành động thực tiễn trong quá trình thực hiện các chương trình, kế hoạch hằng năm, 5 năm từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Cương lĩnh đã định hướng giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn và đã từng bước được hiện thực hóa, tạo ra những thành tựu có thể đo đếm được trong đời sống đất nước.
Về kinh tế: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã định hình rõ nét và vận hành có hiệu quả với sự hình thành tương đối đồng bộ các loại thị trường, các yếu tố thị trường, sự đan xen các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể có những chuyển biến mới, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh. Cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế, cơ cấu lại các ngành kinh tế, cơ cấu các doanh nghiệp trên cơ sở thực hiện các đột phá chiến lược, nhờ vậy, năng suất lao động, chất lượng phát triển, giá trị tăng thêm và khả năng cạnh tranh được cải thiện.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thống nhất, bao gồm nhiều chế độ sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng. Nhận thức đúng và giải quyết hiệu quả quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; hình thành và vận hành đồng bộ các loại thị trường, các yếu tố thị trường, hướng tới phát triển kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành, phát triển gắn liền với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư duy đổi mới, nổi bật là đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ phát triển theo chiều rộng dựa trên xuất khẩu tài nguyên thô và nguồn nhân lực giá rẻ sang kết hợp phát triển hợp lý chiều rộng và chiều sâu, chủ đạo là phát triển theo chiều sâu, chú trọng năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ, sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng và nền quản trị tiên tiến.
Về văn hóa, xã hội, con người: Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được xây dựng, có những bước phát triển. Giá trị văn hóa truyền thống và tài nguyên văn hóa được bảo tồn, phát huy, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Vai trò, đặc trưng, phương hướng phát triển của văn hóa, con người Việt Nam được xác định đầy đủ, rõ nét hơn. Văn hóa là mục tiêu, nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với những đặc trưng: dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học; chú trọng xây dựng môi trường văn hóa; phát triển các lĩnh vực văn hóa; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo; đột phá cơ chế, chính sách phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; làm cho văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là chính trị, kinh tế - xây dựng văn hóa trong chính trị, văn hóa trong kinh tế. Con người là chủ thể, là trung tâm của chiến lược phát triển; phát triển toàn diện con người Việt Nam về tư tưởng, trí tuệ, tâm hồn, thể chất, về đạo đức, nhân cách, lối sống với các đặc tính cơ bản yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người; mọi hoạt động văn hóa đều phải hướng tới tới xây dựng, phát triển con người.
Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại: Sau gần 10 năm thực hiện Cương lĩnh, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng, làm sâu sắc, đầy đủ hơn nội hàm “bảo vệ Tổ quốc”, quan hệ khăng khít giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa tăng cường quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại. Định hướng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên nền tảng “thế trận lòng dân”, định hướng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và phương lược bảo vệ Tổ quốc không ngừng được hoàn thiện, hình thành lý luận và khoa học quân sự, an ninh Việt Nam trong thời kỳ mới.
Về đối ngoại, quán triệt định hướng của Cương lĩnh: thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế..., Đảng chú trọng bám sát thực tiễn khu vực, thế giới, tăng cường nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh, phát triển lý luận ngoại giao làm cơ sở hoàn thiện đường lối đối ngoại đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, gắn lợi ích đất nước với lợi ích của cộng đồng khu vực, quốc tế, nêu cao ngọn cờ hòa bình, chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế, xử lý đúng đắn vấn đề đối tượng, đối tác, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác song phương, đa phương, chủ động tham gia xây dựng các định chế khu vực, quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị: Trong gần 10 năm thực hiện Cương lĩnh, đặc biệt trong hơn 3 năm sau Đại hội XII của Đảng, công tác xây dựng, chỉnh dốn Đảng được triển khai quyết liệt, có nhiều chuyển biến tích cực. Tổ chức đảng từ trung ương đến cơ sở được kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ được xác định rõ ràng hơn; nội dung, phương thức hoạt động và sinh hoạt được tiếp tục đổi mới.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức đi đôi với đấu tranh phòng ngừa, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xây dựng, đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, khắc phục những biểu hiện hành chính hóa. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ đi đôi với đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu... Tư tưởng Cương lĩnh về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng được cụ thể hóa và phát triển rõ nét trong Hiến pháp 2013.
Tóm lại, Toàn Đảng và mỗi cán bộ đảng viên phải nâng cao trình độ trí tuệ, tư tưởng và lý luận. '”Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đê do thực tiễn cách mạng đặt ra”'[1]. Đảng coi trọng xây dựng, phát triển Cương lĩnh, đường lối và đường lối, chủ trương của Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước và lợi ích chính đáng của Nhân dân, xuất phát từ sự vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan, khắc phục biểu hiện chủ quan, duy ý chí. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: Sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự tha hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên”'[2].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.66.
[2] . Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.66.